Hiển thị các bài đăng có nhãn luom lat. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn luom lat. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 1 tháng 11, 2014

THÁNG CÁC LINH HỒN

Tác giả: 
 Jos Hoàng Mạnh Hùng
Chút lời giã biệt

Thế là em đã ra đi được gần trăm ngày! Theo phong tục Việt Nam, người ta tin rằng linh hồn người chết còn quyến luyến người thân, "hồn vía còn nặng" chưa thể siêu thoát được, vẫn còn luẩn quẩn xung quanh nhà. Nước mắt đã lăn dài, lời kinh nấc nghẹn khi hồi tưởng lại, mới gần trăm ngày thôi mà đã như ngàn thu sâu thẳm! Một trăm ngày để những nỗi đau mất mát tạm thời lắng xuống, để hình ảnh người thân dần dần mờ nhạt trong tâm tưởng những người còn sống và người chết hòa dần vào cõi thinh không, hư ảo.

Những lời kinh nguyện tắt dần trong lời thầm thĩ kêu xin: “Giêsu-Maria-Giuse xin cứu rỗi linh hồn Maria. Giêsu … Maria… Giêsu … Maria…”. Chiều nghĩa trang trở lại vẻ yên ắng, tịch mịch thường ngày. Chỉ có những làn hương khói lan tỏa nhẹ nhàng trên mộ em và những ngôi mộ “hàng xóm” trong ngày đầu tháng các linh hồn - tháng cuối năm phụng vụ Giáo hội dành để cầu nguyện cho các tín hữu đã qua đời.

Như một cơn mê, em đã cố không nhắm mắt sợ rằng mình sẽ ngủ một giấc thật dài trong khi ngày mai còn bết bao nhiêu chuyện phải lo toan như đã từng lo toan kể từ khi khôn lớn. Mệt lắm, nhưng em chỉ an tâm nhắm mắt khi còn thấy khuôn mặt những đứa em đã gắn bó với những hỉ, nộ, ái, ố một thời trong cuộc sống và an tâm sẽ được gọi dậy để tiếp tục những công việc trần ai còn dang dở.

Sự sống này chỉ thay đổi mà không mất đi.
Lúc con người nằm yên giấc ngủ,
mắt nhắm lại rồi là thấy tương lai.
Trọn kiếp người nay không còn nước mắt, nụ cười.
Nhưng con tin rằng ngày mai trong Chúa
Chẳng có chia  lìa, chẳng có hợp tan.
(Sự sống thay đổi – Phanxicô - TCCĐ)

Không còn được nghe em kể về hai thiên thần áo trắng giúp em trong cơn đau vật vã khi xét nghiệm cô đơn trên giường bệnh. Không còn nghe tiếng em trong phone mỗi khi có việc cần chia sẻ… Suốt đời tảo tần như một “chị hai” trong nhà, lúc lấy chồng lại lo cho chồng con. Ngày ngày đi về như con thoi giữa gia đình chung và gia đình riêng trong việc mưu sinh cơm áo. Những ngày cuối đời tưởng như đã nắm được chút hạnh phúc khi trong tay đã có tấm hộ chiếu thì căn bệnh quái ác đã cướp đi tất cả. Thôi thì tấm hộ chiếu theo em như một nỗi hạnh phúc mang theo những ước mơ của một kiếp người!

Nhưng quý giá hơn cả là tấm ”hộ chiếu nước Trời” mà em đã được lãnh nhận từ tay vị Linh mục đại diện Chúa Kitô và Hội Thánh trong nghi thức xức dầu và rước Mình Thánh Chúa vào lòng: ‘‘Chúng ta cùng nhau đến đây vì danh Chúa Giêsu Kitô, Ðấng đã cho người đau yếu được lành mạnh. Chính Ngài đã chịu đau khổ vì phần rỗi chúng ta. Ngài đang ở giữa chúng ta lúc chúng ta nhắc lại lời Thánh Giacôbê tông đồ: ‘Ai trong anh em phải yếu liệt, hãy mời các vị thay mặt Hội Thánh đến, họ hãy cầu nguyện cho người ấy, sau khi xức dầu nhân danh Chúa. Lời cầu nguyện do lòng tin sẽ cứu người bệnh; người ấy được Chúa nâng dậy, và nếu người ấy đã phạm tội, thì sẽ được Chúa thứ tha.’ (Gc 5,14-15). Chúng ta hãy phó thác người chị em của chúng ta nơi ơn lành và quyền năng Chúa Giêsu Kitô, xin Chúa làm cho bớt đau đớn, ban cho được lành mạnh và được cứu rỗi.’’

Bóng hoàng hôn đang bảng lảng trên những đôi vai thập giá, nơi đây sao cô tịch, sao thinh lặng quá! Không còn những tất bật ngược xuôi trên những dặm đường đời mưu cầu áo cơm hạnh phúc. Không còn những hạnh phúc ấm êm đầy ắp những tiếng cười, không còn lo toan, không còn hưởng thụ … Chết là bắt đầu cuộc sống mới. Ở đây ai cũng như ai, ai cũng yên nghỉ bình đẳng chờ đợi sự thay đổi cuộc sống. “Thác là thể phách, còn là tinh anh”, thể phách ngày xưa do Chúa tạo dựng đẹp đẽ nhường nào giờ đây đã và đang trong tiến trình phân hủy để trở về kiếp tro bụi.

Khi còn sống, thân xác được dành nhiều ưu tiên: nào là ăn ngon, mặc đẹp, nào là địa vị, tiền tài, danh vọng … Trên dương thế hồn nhờ xác rất nhiều. Các việc lành thân xác làm đều mang lại lợi ich cho linh hồn, việc dữ thân xác làm gây họa cho sự sống trường sinh. Còn hơi thở, xác hồn gắn bó. Hết hơi rồi, hồn xác tạm chia lìa. Đâu còn thân xác để “Lạy Chúa Trời xin mở miệng con, cho con vang tiếng ngợi khen Ngài”, đâu còn thân xác để làm những việc lành thu công, tích đức! Bấy giờ hồn không thể tự giúp mình đền tội được vì “đêm đến, không ai có thể làm việc được” (Ga 9,4) và chỉ trông chờ vào những việc lành phúc đức, những lời kinh nguyện cầu của những người còn sống để giúp hồn đền bồi những khinh tội chưa được tha và các tội khác đã được tha nhưng chưa đền tội đủ vì “nhân vô thập toàn” trong cuộc sống lữ hành.

Vậy là ngày lễ các linh hồn năm nay, không còn thấy bóng dáng em lúp xúp cắm những nén nhang trên mộ Cậu, em Hiển và những người thân quen tại nghĩa trang Giáo xứ. Không còn cùng gia đình bên những phần mộ dâng lên những lời kinh nguyện cầu cho những người thân và những người đã qua đời. Em đã về với chồng nơi nghĩa trang của những người đồng hương cho vẹn tình phu thê, dâu thảo. An táng là chờ ngày sống lại vinh quang. Nghĩa trang nào cũng là nơi an nghỉ, chờ đợi ngày phục sinh. Nơi an nghỉ chỉ là cửa ngõ để bước vào sự sống vĩnh cửu vì chúng ta đã và đang sống trong niềm tin vào Đấng đã phục sinh từ cõi chết là Đức Kitô.

Xin tạm biệt em yêu, tạm biệt những người thân và những người chưa quen chốn này. Xin mọi người hãy nghỉ ngơi thanh thản trong Chúa như Lời Ngài đã phán: “Tất cả những ai đang vất vả mang gánh nặng nề, hãy đến cùng tôi, tôi sẽ cho nghỉ ngơi bồi dưỡng” (Mt 11, 28). Chúa là cùng đích và là niềm hoan lạc đời đời của con người. Chúng ta đã được Chúa tạo dựng theo hình ảnh của Ngài và chúng ta phải trở về với Ngài. Ngoài Chúa ra, không có gì tồn tại mãi mãi. Có Chúa mới có hạnh phúc thật. Chính Thiên Chúa đã phán: “Đích thân Ta sẽ đi, và Ta sẽ cho ngươi được nghỉ ngơi.” (Xh 33, 14). Hẹn gặp nhau trong những lời kinh nguyện hiệp thông và ngày cánh chung sum họp chắc chắn sẽ đầy ắp những nụ cười thay cho những giọt nước mắt ngày chia xa  tiễn biệt.

Jos. Hoàng Mạnh Hùng
Tháng Các Linh Hồn 2014

Chủ Nhật, 19 tháng 10, 2014

QUYỀN LỰC DO THÁI

Quyền lực Do Thái

Qua những trang trình bày tổng quát về lịch sử dân Do Thái ở trên, từ khởi đầu cho tới ngày hôm nay, có lẽ cũng đủ để cho phép chúng ta trước hết có được một ý niệm và một nhận thức nhất định nào đó về dân tộc đặc biệt này, về một dân tộc mà người ta thường gọi là„Dân riêng của Thiên Chúa“ hay „Dân tuyển chọn của Thiên Chúa.“
Vâng, qua cuốn Kinh Thánh Cựu Ước, cuốn „Sách Thánh“ và đồng thời là cuốn „Sách Lịch Sử“ duy nhất của dân tộc Do Thái, người ta nhận chân được rõ ràng nguồn gốc dân tộc Do Thái không phải phát xuất từ những câu chuyện thần thoại giả tưởng, nhưng được hình thành từ ông Áp-ra-ham, một vị Tổ Phụ khả kính, đầy lòng kính sợ Thiên Chúa và tuyệt đối tin tưởng phó thác vào Người, đã được chính Thiên Chúa Tạo Hóa tuyển chọn (x. St 12,1-2). Và trong suốt dòng lịch sử của dân Do Thái, Thiên Chúa luôn can thiệp một cách trực tiếp: Người cho phép họ được tiếp cận Người như chưa bao giờ có dân nào được như vậy, được nghe các huấn lệnh của Người, được chính Người dẫn dắt và được chứng kiến nhãn tiền những phép lạ cả thể Người làm cho họ. Dĩ nhiên, Thiên Chúa không hề làm thay cho họ những gì họ phải thực hiện và không hề che chắn cho họ trước những thách đố đầy khó khăn nằm trong tầm tay tự vệ của họ. Đó cũng là cách thức Thiên Chúa luôn đối xử với con người nói chung.

Nhưng một thực tại hiển nhiên và quan trọng khác mà chúng ta cũng có thể khám phá ra được trong quá trình lập nước, xây dựng nước và bảo vệ nước của dân Do Thái, từ khởi thủy cho đến ngày hôm nay, một thực tại mà chúng tôi xin được gọi là „Quyền lực Do Thái.“

Những dòng trình bày về lịch sử dân Do Thái ở trên đã giúp chúng ta biết rõ được thực trạng đau thương của dân tộc này, một dân tộc bé nhỏ nhất thế giới, luôn phải sống trong cảnh bị kỳ thị, bị khinh miệt, bị đàn áp, bị bóc lột, bị hành hạ và bị sát hại dã man, v.v… từ khi họ còn phải sống trong cảnh nô lệ ở Ai-cập cho tới khi được định cư và lập quốc tại xứ Ca-na-an, miền Đất Hứa của họ, nhưng rồi lại triền miên bị các tộc người khác đến đánh chiếm, bị xâm lăng, Đền Thờ Giê-ru-sa-lem bị san bằng, nhiều lần bị trục xuất ra khỏi chính quê hương của mình, trong số đó có ít nhất ba cuộc lưu đày sang Babylon là đau thương và kéo dài nhất, v.v… cho đến cuộc hủy diệt sau cùng do quân Roma gây ra vào năm 70 sau Công Nguyên khi họ đánh thắng cuộc nổi dậy giải phóng quê hương của người Do Thái. 

Kết cục, Đền Thánh Giê-ru-sa-lem, các lâu đài dinh thự cũng như nhà cửa trong thành Giê-ru-sa-lem lại hoàn toàn bị tiêu hủy, đến nỗi „không còn tảng đá nào trên tảng đá nào nữa“ mãi cho tới ngày nay, đúng như lời tiên báo của Đức Giêsu. (x. Mt 24,1-2). Còn dân chúng đều bị đưa đi lưu đày khắp tứ phương thiên hạ. Và kể từ năm 1948, khi tân quốc gia Ít-ra-en được tái lập và mọi người Do Thái khắp nơi trên thế giới lần lượt được hồi hương, để rồi biến một tân quốc gia Ít-ra-en nhỏ bé thủa ban đầu với một dân số quá khiêm tốn vào khoảng trên dưới 800.000 người trở thành một quốc gia Ít-ra-en hùng cường, văn minh tiến bộ cao độ và bất khả lấn chiếm bởi bất cứ thế lực ngoại xâm nào như ngày nay với một dân số trên 8.000.000 người.
Nếu người ta có lý khi đưa ra nhận định rằng „trong cái rủi luôn ấn chứa cái may“, thì điều đó hoàn toàn đúng khi đem áp dụng vào hoàn cảnh và định mệnh người Do Thái. Suốt dòng lịch sử của mình, Ít-ra-en đã biết bao lần bị ngoại bang xâm chiếm và dày xéo, dân chúng bị lưu đày, nhất là trong cuộc lưu đày cuối cùng vào đầu Công Nguyên kéo dài gần hai ngàn năm, đất nước hầu như bị xóa sổ trên bản đồ thế giới. Nhưng chính trong nỗi bất hạnh tột cùng ấy, chính trong cuộc lưu đày khắp tứ phương thiên hạ không hẹn ngày về ấy, đặc biệt ở Trung Đông, ở các nước Âu Mỹ này lại là một cái may mắn to lớn, là một cái phúc lợi vĩ đại cho người Do Thái nói chung và cho nhà nước Ít-ra-en nói riêng.

Vì trong một cuộc lưu đày kéo dài cả gần hai ngàn năm như thế, người Do Thái một đàng vẫn luôn giữ nguyên được bản sắc và căn tính „Do-thái“ của mình là trung thành tuân giữ Giao Ước giữa Thiên Chúa với Tổ phụ Áp-ra-ham, với Mô-sê và với toàn thể dân tộc họ, tức thực thi các giới răn và huấn lệnh của Thiên Chúa như đã được ghi rõ trong từng trang của Sách Đệ Nhị Luật: KINH THÁNH CỰU ƯỚC.

„Đây là mệnh lệnh, là những thánh chỉ và quyết định mà Đức Chúa, Thiên Chúa của anh em, đã truyền phải dạy cho anh em, để anh em đem ra thực hành trong đất anh em sắp sang chiếm hữu. Như vậy anh em cũng như con cháu anh em sẽ kính sợ Đức Chúa, Thiên Chúa của anh em, mọi ngày trong suốt cuộc đời, tuân giữ tất cả những chỉ thị và mệnh lệnh của Người mà tôi truyền cho anh em, và anh em sẽ được sống lâu. Hỡi Ít-ra-en, hãy nghe và lo đem những điều ấy ra thực hành; như vậy anh em sẽ được hạnh phúc và trở nên thật đông đảo, trong miền đất tràn trề sữa và mật, như Đức Chúa, Thiên Chúa của cha ông anh em, đã phán với anh em. Nghe đây, hỡi Ít-ra-en! Đức Chúa Thiên Chúa chúng ta, là Đức Chúa duy nhất. Hãy yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của anh em, hết lòng hết dạ, hết sức anh em. Những lời này tôi truyền cho anh em hôm nay, anh em phải ghi tạc vào lòng. Anh em phải lặp lại những lời ấy cho con cái, phải nói lại cho chúng, lúc ngồi trong nhà cũng như lúc đi đường, khi đi ngủ cũng như khi thức dậy, phải buộc những lời ấy vào tay làm dấu, mang trên trán làm phù hiệu, phải viết lên khung cửa nhà anh em, và lên cửa thành của anh em.“ ( Đnl 6,1-9).
Chứ họ không hề để mình đồng hóa với người dân bản xứ trong sự thờ phượng các ngẫu tượng của các dân này, và luôn vọng về cố hương – trước ngày tái lập quốc vào năm 1948, những người Do Thái trên khắp thế giới khi gặp nhau, trước hết họ luôn chúc nhau „sang năm gặp lại tại Giê-ru-sa-lem“ – và một đàng khác họ lại biết sống hòa đồng hoàn toàn vào các sinh hoạt và trở thành công dân thực thụ của những địa phương, nơi họ bị lưu đày. Đây quả thực cả là một phương thức sống vô cùng khôn ngoan của người Do Thái đã giúp cho họ dành được phần thắng lợi về cho mình và cho dân tộc mình.

Sự thành công này của người Do Thái một phần lớn là do họ luôn trung thành ghi lòng tạc dạ và cử hành biến cố Vượt Qua của dân tộc họ, tức biến cố Thiên Chúa đã ra tay giải phóng họ ra khỏi ách nộ lệ lầm than tủi nhục tại Ai-cập qua trung gian người tôi trung của Người là Tổ phụ Mô-sê.

Vâng, nhờ có bản chất thông minh và khôn ngoan thiên phú vượt trội của mình, người Do Thái ở Âu châu cũng như ở trên khắp nơi trên thế giới, nhất là ở Hoa Kỳ đã nắm vững ưu thế và làm chủ được những lãnh vực quan trọng mang tính cách quyết định của nước sở tại, như nền kinh tế nói chung và lãnh vực ngân hàng tiền tệ nói riêng, các ngành khoa học chủ chốt, các phương tiện truyền thông đại chúng, v.v… Bởi vậy, nếu nước Mỹ là một nước tư bản giàu có hàng đầu thế giới, thì nền tư bản Mỹ phần lớn nằm trong tay người Mỹ gốc Do Thái và nếu thành phố New Yok là thành phố kinh tế đầu não của Mỹ, thì thành phố này lại là thành phố của những người Mỹ gốc Do Thái. Do đó, nếu người ta không muốn nói rằng nền kinh tế Mỹ nằm trong tay người Mỹ gốc Do Thái, thì người ta lại phải chân thành nhìn nhận rằng những người Mỹ gốc Do Thái đang nắm phần chủ động trong việc chi phối nền kinh tế nước này. Nhưng những ai chi phối được nền kinh tế của một đất nước, thì thường cũng chi phối được các lãnh vực khác của nước ấy nữa, như chính trị, văn hóa và xã hội. Đây là quy luật bất thành văn của cuộc sống.
Những nhận định này có thể được coi là một giải mã hợp lý cho „bí mật“ tại sao quốc gia nhỏ bé Ít-ra-en có thể tồn tại, phát triển và nhất là có thể chiến thắng được các kẻ thủ đông số và hùng cường hơn họ gấp trăm gấp ngàn lần. Dĩ nhiên, ý chí tự tồn và bất khuất của người Do Thái là những nhân tố quan trọng mang tính cách quyết định trong sự tồn vong của dân tộc họ. Nhưng chúng ta cũng đừng quên rằng người Do Thái chiến đấu bằng các vũ khí tối tân nhất của Mỹ và những viện trợ kinh tế khổng lồ của Mỹ là nền tảng vững chãi cho sự phát triển cần thiết của Ít-ra-en.

Ngoài ra, một yếu tố hết sức quan trọng khác cũng đã góp phần chủ yếu vào việc sinh tồn và bảo vệ an ninh toàn vẹn của Ít-ra-en mà chúng ta cũng không nên bỏ qua, đó là các hoạt động của cơ quan tình báo Mossad của họ. Tuy Ít-ra-en là một quốc gia nhỏ bé nhất thế giới, nhưng cơ quan tình báo của họ lại có một mạng lưới hoạt động rộng rãi và bao quát nhất thế giới, hữu hiệu và chính xác nhất thế giới, đến nỗi người ta có thể quả quyết không sai rằng cơ quan tình báo Mossad của Ít-ra-en còn vượt mặt cả cơ quan tình báo CIA của Mỹ và cơ quan tình báo KGB của Nga Sô. Một lợi điểm vô cùng quan trọng của cơ quan tình báo Mossad mà các cơ quan tình báo của các nước khác, trong đó kể cả CIA của Mỹ và KGB của Nga Sô, không thể có được là các điệp viên hay các cộng sự viên của cơ quan tình báo Ít-ra-en đã được cấy trồng từ hàng ngàn năm nay qua các biến cố lưu đày ở rải rác khắp nơi trên thế giới. Những người này là công dân thực thụ của các nước sở tại, là thành viên và nói tiếng nói của địa phương ấy, nhưng họ lại là tai mắt cực kỳ bén nhạy của cố hương Ít-ra-en của họ, một cố hương tuy ngàn trùng xa cách về mặt địa lý nhưng lại gần gũi trong chính trái tim dạt dào dòng máu „Do-thái“ của họ, trong chính dòng huyết quản tình tự dân tộc của họ. Vâng, hàng ngàn hàng vạn hay hàng triệu cộng sự viên này của Mossad hành động không hẳn vì tiền bạc hay lợi lộc vật chất, nhưng trước hết và trên hết là vì tình yêu dân tộc, vì lòng ái quốc sâu xa của họ đối với cố hương Ít-ra-en. Và sợi dây nối kết họ lại với nhau và nối kết họ lại với cố hương Ít-ra-en một cách bất khả phân ly như thế, dù họ ở bất cứ phương trời nào trên trái đất này, là cuốn Kinh Thánh Cựu Ước.

Tất cả những điều vừa nói giúp người ta nhận ra được một thực tại cụ thể quá hiển nhiên tại các nước Âu Mỹ ngày nay, đầu não của cả thế giới về nhiều lãnh vực, mà chúng ta khó lòng phủ nhận, đó là người Do Thái thực sự đang nắm giữ một ảnh hưởng quan trọng mang tính cách quyết định, đặc biệt trong lãnh vực chính trị, kinh tế và ngân hàng, cũng như các phương tiện truyền thông đại chúng. Ở điểm này chúng ta có thể đưa ra một ví dụ cụ thể: Ở Hoa Kỳ hay ở bất cứ quốc gia Tây Âu nào, từ Tổng Thống, Thủ Tướng, Bộ trưởng cho tới bất cứ một nhân vật quan trọng nào trong xã hội có những phát ngôn hay hành động gây nguy hiểm, bất lợi hay tổn thất cho người Do Thái nói chung và nhà nước Ít-ra-en nói riêng, thì tất cả mọi phương tiện truyền thông đại chúng ở các nước trên thế giới đều đồng loạt lên tiếng phân tách, bình luận và phản đối liên tục một cách gay gắt, mãi cho tới khi nhân vật liên hệ ấy phải từ chức và rút lui về vườn.

Vâng, ngày nay, trên thế giới nói chung và tại các nước Âu Mỹ nói riêng, „Quyền lực Do Thái“ không chỉ là một thực tại minh nhiên mà còn là một quyền lực vô biên!

Nói tóm lại, dù muốn hay không người ta cũng phải chân thành nhìn nhận rằng dân tộc Do Thái quả thực là một dân tộc ưu tú nhất thế giới, oai hùng nhất thế giới, bất khuất nhất thế giới và, vì thế, nổi danh nhất thế giới. Đây chính là điểm khiến người ta tự hỏi: Phải chăng lời hứa của Thiên Chúa với ông Áp-ra-ham, Tổ phụ dân Do Thái từ ngàn năm trước là „làm cho ông thành một dân tộc lớn, sẽ chúc phúc cho ông và sẽ làm tên tuổi ông được lẫy lừng“ (x. St 12,2) nay đã được hiện thực hóa?

(Trích trong tác phẩm: Lm Nguyễn Hữu Thy: “Tôi đi hành hương Thánh Địa Ít-ra-en“, Trier 2014)

Thứ Hai, 22 tháng 9, 2014

TIN THI TRAO.





TIN thì TRAO

 Một diễn viên xiếc rất tài ba, anh có thể đi từ ngọn núi này sang ngọn núi kia bằng một sợi dây cáp mà không cần đến vật dụng giữ thăng bằng, mà ở giữa là một vực thẳm.

Khán giả rất đông, thưởng thức, vỗ tay và chúc mừng tuyệt tài của anh.


Không những thế, lần đầu đi sang núi bên kia thì lúc trở về, anh còn đặt một bao ximăng lên chiếc xe cút kít về một cách bình an nữa. Mọi người chăm chú nhìn không chớp mắt từng cử động và bước đi của anh, và thở dài nhẹ nhõm khi anh được bình an.

Anh hỏi tâm trạng mọi người thế nào. Ai cũng trầm trồ ca tụng anh là một thiên tài, một kỳ tích của thế giới, người có một không hai ở trên mặt đất này.


Anh hỏi tiếp: thế mọi người có tin là tôi có thể đi từ ngọn núi này sang ngọn núi kia mà còn chở thêm một người ngồi trên chiếc xe cút kít không?


Mọi người không do dự mà cho câu hỏi này. Dĩ nhiên là được.

Thế ai là người xung phong lên xe để tôi biểu diễn? Anh hỏi tiếp.


Và, mọi người đều tìm lý để từ chối, rồ ra về…


Có một em bé giơ tay chấp nhận. Còn mọi  người thì ngạc nhiên, và hỏi tại sao lại liều vậy.

Thưa các bác, các chú, có gì đâu mà liều. Vì đó là ba của cháu. Cháu tin ba cháu sẽ không bao giờ để cháu gặp phải nguy hiểm. (sưu tầm)


Tin thì trao lời


Lời đây là lời nói. Người ta có thể nói, nói tùm tum, nói nhiều điều và hứa nhiều thứ. Nhưng những lời chân tình, thật lòng thì chỉ khi tin nhau người ta mới có thể nói. Khi tin, họ có thể nói hết những khát vọng, tỏ bày những thầm kín, tâm sự điều riêng tư. Lời nói chất chứa niềm vui và nỗi buồn, vừa muốn giải tỏa và chia sẻ, vừa muốn được người khác lắng nghe và tin nhận. Nhờ thế, đôi bên có thể hiểu, cảm thông và yêu nhau hơn.


Lời là ngôn ngữ Chúa ban cho để con người có thể đến với nhau chẳng những bên ngoài, mà còn có thể đi vào lòng trí và tâm hồn nhau.


Lời đi xuyên qua ranh giới của giới tính hay tuổi tác, văn hóa hay kinh tế, mở ra con đường thênh thang của tình yêu, hạnh phúc và bình an.


Lời giúp người ta đi vào trái tim của nhau, tựa nép bên nhau và sẵn sàng cùng nhau dâng hiến cuộc đời, đi vào xây dựng tương lai, xây dựng tổ ấm.


Lời giúp thêm an ủi, được thêm khích lệ, hỗ trợ can đảm, tăng thêm hy vọng để trườn mình qua khó khăn thử thách gian nan, đụng tới tin yêu và hy vọng, chạm tới thành công và thành đạt.


Lời động viên rất nhiều cho nhau. Lời như bóng mây che mát giữa trưa hè, gió nhẹ khi nóng bức, mưa xuống khi khô cằn. Lời giúp ta vơi đi ưu phiền, nhẹ vơi gánh nặng, quên đi nhọc nhằn, gắng sức hy sinh, tiếp tục vượt khó, tăng thêm nhẫn nại, dày thêm can trường.


Trong niềm tin người ta mới trao cho nhau những lời tốt nhất mang tính xây dựng, bảo vệ và thăng tiến cuộc sống cho nhau và vì nhau.


Nếu thiếu tin tưởng, người ta khó nói chuyện với nhau, khó đến với nhau, và sự dè dặt, nghi ngờ, đề phòng trở thành bức tường vững chắc để chặn họ lại, và họ có thể rất gần về địa lý nhưng lại xa về tâm lý, gần mặt nhưng cách lòng.

Tin thì trao thời


Cũng vậy, nếu thiếu niềm tin, con người khó đến với nhau, càng khó hơn để trao gởi thời gian trai trẻ, thời kỳ xuân xanh cho nhau quản lý, bảo vệ.


Thời đây là thời gian. Thời gian là vàng bạc. Quý vậy mà người ta vẫn sàng sàng dành cho nhau mọi lúc mọi nơi để chia sẻ, và phục vụ nhau.


Khi yêu, người ta sẵn sàng trao gởi tất cả thời gian cho nhau và vì nhau. Với họ, bao nhiêu thời gian cũng vẫn ít, vẫn thiếu.


Nhờ tình yêu và can đảm, con người dám dành cho nhau hết thời gian sống của đời mình. Một quyết định mạnh mẽ và không kém phần liều lĩnh. Nhưng với họ, đó lại không phải khở dại hay ngu muội, nhưng là hạnh phúc. Hạnh phúc vì được hy sinh trọn thời gian cho nhau.


Không gì quý hơn tuổi đời, bởi nó mở ra đường tương lai tươi sáng, hứa hẹn bao thành điều tốt lành. Những tham vọng và lòng khao khát mạnh mẽ của trái tim khiến họ còn muốn đạt tới những kỳ diệu lớn lao hơn trong cuộc sống hơn. Vì thế, việc trao thời, việc hợp tác với người mình tin tưởng sẽ là lý do lớn để trao cho nhau thời gian và tương lai của mình cho người mình yêu.

Tin thì trao đời


Đời đây là cuộc đời. Nếu không có tình yêu, chắc chắn không ai dám làm thế. Vì có quá nhiều bất hạnh và đau khổ trong các gia đình, nơi các bạn trẻ. Nhìn từ bên ngoài, dường như họ chẳng biết gì là hạnh phúc, an vui, mà chỉ toàn là bất trắc, đáng sợ.


Rồi thực tế, thì lại vẫn khác, họ vẫn tìm đến nhau, chia sẻ cho nhau niềm vui cùng nỗi buồn. Rồi họ cần có nhau, đến độ không có không được. Chính tình cảm hun đúc đời sống của họ. Chính tình yêu cho họ nghị lực và can đảm. Chính tình yêu nối kết họ lại đến độ, không có bất cứ sức mạnh nào có thể tách rời họ ra được.


Nếu được yêu, ta sẽ thấy mình giá trị hẳn lên. Ai đang yêu đều nhìn thấy cuộc sống dễ thương, đáng yêu, muốn sống và ham sống. Ai đang yêu đều thấy mình đẹp, và thấy cần hải làm đẹp. Làm đẹp không phải vì mình, nhưng vì người đang yêu mình. Và đôi bên làm đẹp cho nhau, giúp nhau nhận ra giá trị thực của cuộc sống và sự cần thiết phải có nhau. Chính vì thế, việc trao gởi cuộc đời cho  nhau, với họ là chuyện hãnh diện, là niềm kiêu hãnh, chứ không phải là khờ dại. Họ tự hào vì được làm như thế.


Tình yêu giúp cho họ có thêm niềm tin. Nhờ niềm tin, họ càng yêu thương nhau hơn. Nhờ thương nhau, họ trở nên một. Một xương một thịt, một hướng đi, một lý tưởng xây dựng tương lai, đạt tới một gia đình hạnh phúc và giáo dục con cái nên con ngoan hiếu thảo.


Tình yêu giúp họ sẵn sàng dâng hiến đời mình cho nhau. Để đời anh thuộc về em, và đời em thuộc về anh. Chẳng gì quý hơn sự sống và cuộc đời của mình. Nhưng vì tình yêu, họ sẵn sàng trao hiến tất cả để làm vui lòng, đẹp lòng người yêu. Với họ được hiến trao đời mình là quyết định vĩ đại, là món quà vĩ đại, vô giá được dành riêng cho người mình yêu.

Tin thì trao lòng


Lòng đây là tấm lòng. Ngôn ngữ không lời thể hiện mãnh mẽ nhất nơi tấm lòng. Ngôn ngữ dù có văn vẻ, thơ mộng, khéo léo đến đâu cũng không thể diễn đạt hết tất cả tư tưởng và tâm hồn. Chính vì thế, người ta phải sử dụng ngôn ngữ của trái tim. Họ nhận ra nhau bằng ánh mắt, qua hơi thở, và nhất là bằng tấm lòng đối xử tử tế với nhau.


Có thể dáng vẻ bề ngoài, diện mạo, ăn mặc; có thể kiến thức kém cỏi, ứng xử không khéo; có thể vật chất khó khăn, gây khó khăn hơn cho họ, nhưng với tấm lòng, chắc chắn họ nhận ra nét đẹp thật của nhau qua hy sinh, phục vụ, nhẫn nại, bao dung, từ tốn, từ tâm, nhân hậu. họ sẽ sử dụng tấm lòng để nhận ra, để đón nhận tấm lòng của nhau.


Chính vì nhận ra món quà quý giá là tấm lòng, nên tất cả những thiếu sót, yếu kém, vụng về của nhau trở nên nhỏ bé không đáng bận tâm. Tấm lòng mới đáng trân trọng, đáng ngợi ca. Tấm lòng mới là quá lớn mà họ nhận được nhưng không trong cuộc sống.


Thiên Chúa quả tuyệt vời khi cho con người quá nhiều con đường, quá nhiều cách thế để đến với nhau, hiểu nhau và dâng hiến cho nhau.


Dù có sống trong bậc gia đình hay không, thì tấm lòng luôn là điều quý giá. Người sống bằng tấm lòng luôn được người khác quý mến, tin tưởng và thương yêu.


• Trong niềm tin, họ hiện hữu bên nhau và bên Chúa.

• Trong niềm tin, con người đủ sức mạnh để chống lại ma quỷ và mọi chướng ngại trên đường xây dựng hạnh phúc.

• Trong niềm tin, con người có thể loại trừ mọi sợ hãi, lắng lo đe dọa đến cuộc đời của họ.

Trong niềm tin, sự chết cũng phải cúi đầu tùng phục và nhường chỗ cho tình yêu và tấm lòng.

• Trong niềm tin, con người đạt được lý tưởng của mình là sống hạnh phúc, sống mãi trong tình yêu bên nhau và bên Chúa.
THANH THANH
Nguồn : tinvui.info







Thứ Bảy, 6 tháng 9, 2014

KHONG QUYEN LUC NAO...

Không Quyền Lực Nào

“Đức Tin không thể nào bị bóp nghẹt bởi bất cứ quyền lực nào!”. Đó là lời tuyên bố của tổng thống Hoa Kỳ George Bush trong buổi chào từ giã Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II (19/9/1987) nhân dịp Ngài viếng thăm Hoa Kỳ.
Trong bài diễn văn từ giã Đức Thánh Cha, phó tổng thống Hoa Kỳ nói rằng Thiên Chúa vẫn còn tiếp tục làm việc tại Liên Xô sau hơn 60 năm tuyên truyền cho chủ thuyết vô thần.

Ông George Bush kể lại cho Đức Thánh Cha như sau: “Trong nghi lễ an táng tổng bí thư Breznev tại Mascơva, một lễ nghi với nhiều lính tráng và hoa tím, nhưng không có Đức Tin và Lời Chúa, tôi theo dõi bà quả phụ đang tiến đến quan tài để nói lời từ biệt... 

Kìa, có Chúa làm chứng cho tôi, giữa sự lạnh cóng của một chế độ độc tài, bà Breznev chăm chú nhìn người chồng, rồi cúi nhẹ xuống và làm dấu thánh giá trên ngực của người chết...”

Ông Bush cũng kể lại rằng ông đã gặp Mao Trạch Đông trước khi ông này qua đời. Chủ tịch họ Mao đã tâm sự với ông như sau:

“Tôi sắp sửa về Trời, tôi đã nhận được lời mời gọi của Chúa”.

Đưa ra hai sự kiện trên đây, ông Bush kết luận: Không có quyền lực nào, không có luật pháp nào có thể quét sạch những gì đã ăn rễ sâu trong lòng người...

Lời phát biểu trên đây của ông George Bush có lẽ phải làm cho chúng ta phấn khởi. Thiên Chúa vẫn luôn có mặt trong cuộc sống của chúng ta. 

Chính những nơi mà chúng ta tưởng Ngài đã bị gạt bỏ hoàn toàn, chính những lúc mà chúng ta tưởng như Ngài không có mặt, Ngài vẫn tiếp tục hoạt động. Bởi vì Thiên Chúa không thể là Thiên Chúa nếuNgài không yêu thương con người.

Chúng ta tiếp nhận sự sống từ chính Chúa, như trái đất nhận lãnh ánh sáng từ mặt trời. Thiếu ánh sáng mặt trời thì không thể có sự sống trên trái đất. Cũng thế, không có Chúa thì không thể có sự sống... 

Thiên Chúa thông ban sự sống cho chúng ta, bởi vì Ngài yêu thương chúng ta. Ngài yêu thương tất cả mọi người, ngay cả những kẻ chối bỏ hoặc thù ghét Ngài.

(Nguồn: R. Veritas)

Thứ Ba, 2 tháng 9, 2014

LỊCH SỬ BỨC ẢNH MẸ HẰNG CỨU GIÚP





LỊCH SỬ BỨC ẢNH MẸ HẰNG CỨU GIÚP

Tôi là bức họa được người ta đặt cho nhiều tên, nào là "Kim Mẫu", nào là "Đức Trinh Nữ chịu nạn", "Mẹ của các Tu Sĩ DCCT", "Mẹ các gia đình Công Giáo". Nhưng tên được chọn cho tôi là "Mẹ Hằng Cứu Giúp", đó cũng là danh hiệu mà Đức Giáo Hoàng Piô IX muốn các Tu Sĩ DCCT rao truyền cho mọi người biết đến.

Chuyện của tôi là chuyện Thiên Chúa đã ra tay biến những việc tầm thường nhân loại trở thành chuyện thiêng liêng linh thánh như thế nào. Tôi có một quá trình lịch sử phức tạp và phiêu lưu, nhưng nếu nhìn "từ trên cao" thì chỉ là một đường thẳng kéo dài xuyên qua lịch sử nhân loại. Nhưng quan trọng hơn cả, ấy là việc tôi hiện diện trong đời sống tông đồ của các Tu Sĩ Dòng Chúa Cứu Thế Chí Thánh.

"Khi đã thấy Đức Mẹ một lần thì chỉ mong chết để được nhìn thấy lại gương mặt của Mẹ" ( Bernadette ).
♦♦♦
Một lần kia, muốn biết giữa các kiểu ảnh Đức Mẹ đã được in ra phổ biến khắp nơi, ảnh nào giống Đức Mẹ thật nhất, người ta bày ra trước mặt chị Bernadette Soubirous, người đã được diễm phúc nhìn thấy Đức Mẹ hiện ra 18 lần tại hang đá Lộ Đức. Các bức ảnh lần lượt được duyệt qua dưới con mắt chăm chú của chị Bernadette. Lúc ảnh Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp ( bức ảnh mô phỏng theo bức hoạ cổ truyền HODEGETRIA ) vừa phớt qua thì chị Bernadette chụp lấy ngay và reo lên: "Bức ảnh này có một cái gì đó tương tự." Không chỉ có chị Bernadette mà thôi, mà cả chị Lucia là người thấy Đức Mẹ hiện ra ở Fatima, khi nhìn thấy Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp cũng bảo rằng mẫu ảnh này giống với Đức Mẹ. Giống nét mặt hay giống bởi mầu nhiệm chất chứa trong đó ?
Gốc tích
Tương truyền rằng, ngày xưa Thánh Luca có vẽ một bức họa Đức Mẹ bồng Chúa Giêsu Hài Đồng. Như ta biết, Thánh Luca là người đã viết những chuyện liên quan đến Đức Mẹ thật chi tiết. Có người cho rằng sở dĩ ngài đã viết được như thế là vì được Đức Mẹ "thủ thỉ" kể cho nghe. Khi bức họa được dâng lên cho Mẹ xem thì Mẹ phán: "Ơn thánh Mẹ sẽ theo bức ảnh này."
Sang đến thế kỷ thứ V, tại thành Constantinople, có một bức họa rất thời danh được mọi người ca ngợi là tuyệt tác, lịch sử ghi dấu dưới cái tên HODEGETRIA ( Đức Mẹ dẫn đường ). Thời đó người ta cho rằng thánh Luca là người đã phác hoạ nên nguyên bản bức ảnh này.
Vào đầu thế kỷ XII, tại đảo Crêta, Địa Trung Hải, bức hoạ HODEGETRIA được các hoạ sĩ Âu – Á dung hoà hai quan niệm hội hoạ Âu – Á để vẽ ra nhiều bức ảnh thời danh. Ngày nay, nguyên bản bức HODEGETRIA đã bị thất lạc. Tuy nhiên, người ta còn giữ được nhiều bản phụ mô phỏng theo bức hoạ đầu tiên mà bức ảnh Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp là một trong các phụ bản đó.
Đến cuối thế kỷ XV, trên đảo Crêta, bức ảnh Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp được các tín hữu sùng kính đặc biệt và được mệnh danh là bức ảnh hay làm phép lạ. Thế rồi một sự cố bất thường xảy ra. Người ta biết được biến cố này là nhờ tìm thấy tại sở văn khố Vaticanô ba mảnh giấy rất cũ, chúng là bản sao của một mảnh giấy ghi lại lịch sử của bức ảnh, nội dung mảnh giấy đó như sau:
Bức ảnh bị đánh cắp
Cuối thế kỷ XV, một thương gia buôn bán rượu, người đảo Crêta đã ăn trộm bức ảnh trong một Tu Viện và đem qua Rôma. Sau khi thoát khỏi một tai nạn đắm tàu, ông đến Rôma và lâm bệnh nặng. Trước lúc qua đời, ông kể lại cho một người bạn Ý nghe việc ông đã đánh cắp bức ảnh đó từ đâu và nó được tôn kính như thế nào. Với giọng yếu ớt của người hấp hối, ông khẩn khoản nài xin người bạn Ý đem bức ảnh trả lại cho một Nhà Thờ nào đó để được công khai tôn kính. Sau khi người lái buôn chết, người bạn lục lọi trong đống hàng hoá thì quả thật, có thấy bức ảnh Mẹ. Ông định tâm đem bức ảnh trả lại cho Nhà Thờ gần nơi ông ở. Nhưng đang lúc đó, vợ ông biết được, ngăn cản ông trả lại bức ảnh và giữ lại cho bằng được. Giữa lời hứa với người quá cố và sự biện bạch của người vợ thân yêu, ông đã chiều lòng vợ, không đem trả bức ảnh.
Thời gian qua đi, ông quên lời cam kết và bức ảnh vẫn được giữ lại trong phòng của vợ chồng ông 9 tháng. Nhưng một hôm, Đức Mẹ hiện ra cho ông biết: ông không có quyền giữ lại bức ảnh mà phải đem đến một nơi xứng đáng hơn. Ông làm ngơ. Mẹ lại hiện ra lần hai, ông vẫn ngoan cố. Mẹ lại hiện ra lần nữa cảnh cáo ông. Lần này ông hoảng sợ, ăn không ngon, ngủ không yên. Ông đem chuyện kể cho vợ nghe và xin vợ thi hành ý định của Mẹ. Vợ ông là người ương ngạnh, khi nghe ông nói thì cho là điều vu vơ, mộng mị nên không đồng ý. Mẹ lại hiện ra lần thứ tư và bảo ông: "Ta đã hiện ra bao lần để cảnh báo con mà con không chịu nghe. Vậy con phải ra khỏi nhà này trước, rồi Ta sẽ đi đến một nơi xứng đáng hơn." Ít ngày sau, con người "nể vợ" này ngã bệnh và qua đời.
Trước cái chết đột ngột của chồng, bà vợ cứng lòng vẫn chưa lay chuyển, bà cứ khư khư giữ lại bức ảnh. Một hôm, đứa con gái 6 tuổi của bà hớt hải chạy đến nói với bà: "Mẹ ơi, con vừa gặp một bà đẹp lắm. Bà ấy bảo con về nói với mẹ rằng: Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp muốn được trưng bày trong một ngôi Thánh Đường ở thành Rôma để dân chúng sùng bái, và Người muốn ra khỏi nhà chúng ta". Nghe con nói vậy, bà mẹ bắt đầu nao núng, phát nghi là mình đã nhúng tay vào cái chết của chồng. Bà trù trừ… rồi quyết định vâng lời Đức Mẹ. Nhưng phút cuối bà lại gặp phải bà hàng xóm khô đạo. Bà này khi nghe chuyện liền nói với bà: "Hơi đâu tin chuyện trẻ con, Đức Mẹ bận tâm chi bức ảnh nhân tạo này. Không tin bà cứ đem quăng bức ảnh vào lửa, nó sẽ bốc cháy như bất cứ thanh củi gỗ nào. Nếu bà ngượng tay, bà để tôi." Rồi bà ta còn hỗn láo nhiều lời với Đức Mẹ nữa.
Đến chiều tối, lúc về nhà, bà khô đạo này đã lăn ngã xuống đất, trong mình đau nhức, ở cánh tay có cái ung độc mọc ra, sưng lên mỗi lúc một to. Trước cơn bệnh kỳ lạ, bà sực nhớ đến lỗi mình đã phạm. Bà khóc lóc, kêu van, xin đem ảnh Mẹ đến. Trước tôn nhan Mẹ, bà cầu nguyện xin ơn tha thứ.
Một sự lạ bất ngờ xảy ra: tay bà vừa đụng vào bức ảnh thì bệnh lạ kỳ kia biến tan, không để lại vết tích gì. Một câu hỏi nảy ra trong đầu hai người phụ nữ sám hối này: Mẹ muốn chúng ta đưa Mẹ đi đâu ? Mẹ liền hiện ra với em bé và nói: "Con hãy nói với mẹ của con là Ta muốn được trưng bày ở khoảng giữa Nhà Thờ Đức Bà Cả và Nhà Thờ Thánh Gioan Latêranô, tức trong ngôi Thánh Đường kính Thánh Mátthêu". Lần này, người mẹ nghe theo lệnh của Mẹ và đã liên lạc với các cha Dòng Augustin là những người đang phụ trách Nhà Thờ Thánh Mátthêu. Bà mời các cha đến nhà, kể lại sự tình và chuyển giao bức ảnh cho các ngài. ( Tranh kính màu minh họa sự tích ).
 Ba trăm năm tại Nhà Thờ Thánh Mátthêu
Ngày 27.3.1499, các cha Dòng Thánh Augustin đã tổ chức một đám rước cực kỳ long trọng đưa ảnh Mẹ về Nhà Thờ Thánh Mátthêu. Cũng vào ngày ấy, Mẹ mở đầu "sứ mệnh hằng cứu giúp" của Người bằng một phép lạ cả thể: một người đàn ông bị bại tay nhiều năm đã khiêm nhường cầu xin với Mẹ, nài xin người ta cho được chạm vào ảnh Mẹ, khi vừa chạm vào ảnh Mẹ, cánh tay khô cằn kia liền được chữa lành ngay tức khắc. Ông liền đi theo đám rước hát mừng ngợi khen Mẹ. Đây là phép lạ đầu tiên Đức Mẹ làm tại kinh thành Rôma. Phép lạ khai mào cho một chuỗi dài ơn thiêng mà Mẹ sẽ làm dưới tước hiệu "Mẹ Hằng Cứu Giúp".
Năm 1778, là năm mà theo Sở Văn Khố DCCT, bức ảnh Mẹ Hằng Cứu Giúp được tôn vinh gần 3 thế kỷ XVI, XVII, XVIII trên đồi Esquilinô, trong Thánh Đường kính Thánh Mátthêu. Dân chúng tấp nập đưa nhau tới kính viếng và cầu nguyện với Mẹ Hằng Cứu Giúp và Mẹ đều đáp lại bằng muôn vàn ơn thiêng.
300 năm lừng danh Mẹ đã chinh phục lòng Giáo Dân Rôma. Nhưng rồi một biến cố xảy ra. Năm 1798, khi rầm rộ tiến vào Rôma để công bố cái gọi là "cộng hoà tự do cho người Rôma", đạo binh của Napoléon I đã mặc sức hoành hành, phá huỷ gần 300 ngôi Thánh Đường trong đó có Nhà Thờ kính Thánh Mátthêu ( ngày 3.6 ). Các cha, các thầy Dòng Augustin phải lên đường tản cư, mang theo bức ảnh về Tu Viện Đức Thánh Trinh Nữ ở Posterula. Vì đã có bức ảnh Đức Trinh Nữ trong Nguyện Đường, nên các ngài đặt ảnh Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp trong một Nhà Nguyện nhỏ của Dòng.
Vị Tu Sĩ già và chú giúp lễ
Thời kỳ loạn lạc kéo theo năm tháng dài thầm lặng. Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp như bị quên lãng. Nhưng Mẹ còn có một người đi theo Mẹ trên đường lưu lạc. Đó là thầy Augustin Orsetti. Nay thầy đã là một cụ già 86 tuổi, sức yếu, mắt đã loà, nhưng không ngày nào thầy quên đến quỳ trước ảnh Mẹ để cầu nguyện.
Từ năm 1838 đến 1851, tại Nhà Thờ Đức Trinh Nữ Posterula, có một cậu bé người Ý thường đến giúp lễ, tên là Micaen Marchi. Thầy Orsetti và cậu lễ sinh trở nên thân thiện. Cậu thích ngồi bên thầy già để nghe kể lại sự tích về mẫu ảnh Đức Mẹ và đã nhiều lần thầy Orestti dẫn bé Marchi đến trước bức ảnh linh thiêng đề cầu nguyện. Khi biết mình sắp rời khỏi cõi đời, thầy gọi Marchi đến và như muốn truyền cho cậu cả mối tâm sự của mình: "Con hãy nhớ, bức ảnh này trước đây đã được tôn kính đặc biệt tại Nhà Thờ kính Thánh Mátthêu. Đừng quên nghe con… Con có hiểu không ? Ôi, ngày xưa Đức Mẹ đã làm bao nhiêu phép lạ !" Cái giọng run run của thầy càng làm cho cậu bé cảm động. Cậu có ngờ đâu mình đến đây để thừa tự một lời di trối. Ít lâu sau, thầy Orsetti qua đời ( 1853 ). Năm 1855, Micaen Marchi xin gia nhập DCCT.
Duyên "tiền định"
Cũng chính năm ấy, DCCT mua Villa Caserta tại Rôma để lập nhà chính. Sau khi hoàn thành công việc xây cất năm 1862, một thành viên văn khố là cha Edouard Schwindehammer, trong lúc lục lọi thư viện đã tìm thấy một mảnh giấy ghi lại những truyện lạ về bức ảnh Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp được trưng bày tại Nhà Thờ Thánh Mátthêu trên đồi Esquilinô, mà nay, trên chính mảnh đất này một ngôi Thánh Đường nguy nga vừa được xây lên để dâng kính Thánh An Phong, Đấng Sáng Lập Dòng. Và chính trong vườn của Nhà Dòng, người ta còn thấy vết tích của ngôi Thánh Đường kính Thánh Mátthêu bị phá huỷ trước đây. ( Ảnh chụp trang bìa báo Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp năm 1952 ).
Cha Edouard mang mảnh giấy đọc cho anh em nghe. Cha Micaen Marchi như người ngủ mê bỗng tỉnh dậy, vui mừng nói: "Vậy thì bức ảnh ấy ngày nay vẫn còn, tôi biết bây giờ ở đâu nữa. Vì chính mắt tôi đã từng thấy nhiều lần. Nguyên lúc còn nhỏ, tôi thường hay đi lại Dòng Thánh Augustin. Một thầy Dòng đã có tuổi và rất đạo đức tên là Orsetti không lần nào gặp tôi mà không chỉ và nói cho tôi nghe về bức ảnh hay làm phép lạ đó. Bức ảnh gần như không được tôn kính, không được trang hoàng gì, ngay cả bên cạnh không có ngọn đèn để thắp nữa… Bức ảnh ấy bị bụi bặm phủ đầy và chẳng ai đến kính viếng. Trong nhiều năm giúp lễ ở đó, tôi đã nhiều lần ngắm nhìn bức ảnh ấy."
Cũng trong năm đó, tại Nhà Thờ Giêsu của các cha Dòng Tên, cha Francesco Blosi, một diễn giả trứ danh đang lần lượt giảng về các bức ảnh Đức Mẹ trong thành Rôma. Ngày 7.2.1863, khi giảng về ảnh Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp, ngài nói: "Kính thưa anh chị em, hôm nay tôi đến để nói với anh chị em về một bức ảnh Đức Mẹ, vốn rất nổi tiếng nhờ những phép lạ. Nhưng tiếc thay, mẫu ảnh linh thiêng ấy đã thất lạc 70 năm nay, từ ngày biến cố chiến tranh bùng nổ, không có dấu hiệu nào cho biết bức ảnh ấy hiện giờ ở đâu ( … ). Ước vọng của Mẹ là được trưng bày trong ngôi Nhà Thờ khoảng giữa hai Vương Cung Thánh Đường Đức Bà Cả và Thánh Gioan Latêranô. Chúng ta biết rằng vinh dự tìm thấy bức ảnh được dành cho thời đại chúng ta. Ai có thể biết hết những ơn lành được ban xuống trên thế giới với việc hồi sinh lòng tôn kính Đức Trinh Nữ, dưới tước hiệu Hằng Cứu Giúp mà Người đã chọn cho mình ?"
Bài giảng hùng hồn ấy vọng đến tai các cha DCCT, các cha chưa biết gì về ước muốn của Đức Mẹ. Cái tin kia khiến các ngài rất vui sướng. Giữa hai Vương Cung Thánh Đường, không có ngôi Nhà Thờ nào ngoài Nhà Thờ kính Thánh An Phong. Phải chăng Đức Mẹ đã tiền định cho các ngài duy trì bức ảnh ? Với niềm mong ước, các ngài đã cầu nguyện, tìm tòi, tra cứu, âm thầm dõi theo bước chân của Đức Mẹ trong ba năm. Quả thực, mẫu ảnh các ngài cần tìm còn trong Nhà Nguyện nhỏ Posterula.
Dòng Chúa Cứu Thế đón Mẹ
Ngày 11.12.1865, cha Bề Trên Cả Mauron và cha Marchi xin vào yết kiến Đức Thánh Cha Piô IX. Sau khi thuật lại cho Đức Thánh Cha nghe lai lịch bức ảnh và niềm mong ước của Mẹ, cha Mauron xin rước ảnh Mẹ về Nhà Thờ Thánh An Phong để thực hiện mong muốn của Mẹ. Ngài còn dâng lên Đức Thánh Cha một bản tường trình các việc do cha Marchi viết và nhận thực. Đức Thánh Cha Piô IX, một tông đồ nhiệt thành của Đức Mẹ, rất cảm động, vì thân mẫu ngài đã từng dẫn ngài đến cầu nguyện trong Nhà Thờ Thánh Mátthêu. Ngài không ngần ngại khi có thể làm hiển danh Mẹ. Ngài liền chuẩn y, ban phép cho các cha DCCT rước ảnh Mẹ về với điều kiện: thay thế cho nguyên bản bằng một bức hoạ mô phỏng để lại cho các cha Dòng Augustin. Các cha DCCT vui sướng trước cái hân hạnh được Đức Mẹ chọn làm kẻ giữ gìn bức ảnh của Người và nhiệt tâm chuẩn bị cho một cuộc rước linh đình.
Ngày 19.1.1866, cha Michel Marchi và cha Ernest Bresciani đến Tu Viện Posterula để thương lượng về việc chuyển giao bức ảnh. Bước vào ngôi Nhà Nguyện nhỏ, cha Marchi nhớ lại cách đây 15 năm khi còn là chú giúp lễ tí hon. Cha cảm động ngước nhìn lên ảnh Mẹ còn đó, cũng một vẻ hiền lành, khả ái, cũng màu sắc ấy, nhưng năm tháng đã ghi lên bức ảnh nhiều vết tang thương.
Sau khi đã lãnh nhận bức ảnh Đức Mẹ từ tay cha Bề Trên Tu Viện Posterula chuyển giao, các cha DCCT đem ảnh về nhà, mời hoạ sĩ trứ danh Leopold Nowotny người Ba Lan đến tu bổ lại nguyên bản.
Sau 70 năm trong bóng tối, ngày 26.4.1866, ảnh Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp ra mắt lần thứ hai với dân thành Rôma. Ảnh Mẹ được rước qua các thành phố Rôma hết sức trọng thể. Trong lúc ảnh Mẹ đi ngang qua một con phố, bao lời kinh dâng Đức Mẹ vang lên, thì trong một căn nhà nhỏ bên đường đang có cảnh rất đau thương: một em bé bốn tuổi đang hấp hối trước đôi mắt bất lực của bà mẹ. Bà mẹ bỗng vụt ra một sáng kiến. Bà ẵm con chạy ra cửa sổ, với một lòng trông cậy mãnh liệt, bà nói to vọng qua cửa sổ: "Lạy Mẹ nhân từ, xin Mẹ hãy chữa cho con của con khỏi bệnh hoặc xin cho nó về thiên đàng." Bỗng nhiên đứa bé tỉnh lại, bệnh tình thuyên giảm dần… Ngày hôm sau, hai mẹ con đến trước bàn thờ Đức Mẹ thắp một cây nến để tạ ơn.
Chuyện thứ hai, trong một nhà khác, một bé gái lên tám, chân bị tê liệt đã bốn năm, khó nhọc lắm mới cử động được. Lúc cuộc rước ảnh Mẹ đi qua, người mẹ đứa bé liền cầu xin Đức Mẹ chữa bệnh cho con mình. Đứa bé bị xúc động mạnh, bệnh tình khỏi đi một nửa. Hôm sau bà giục con đến trước bàn thờ Đức Mẹ cầu nguyện rằng: "Lạy Mẹ Maria, xin Mẹ hãy hoàn tất việc Mẹ đã khởi công". Tức khắc, dưới con mắt kinh ngạc, sửng sốt của mọi người, em bé đứng dậy ngay và đi lại như thường. Đây là hai ơn lạ đầu tiên được ghi vào sổ vàng chính thức ngày Đức Mẹ ra mắt dân thành Rôma nơi Thánh Đường kính Thánh An Phong. Ảnh Đức Mẹ được trưng bày nơi bàn thờ chính.
Ngày 5.5.1866, Đức Thánh Cha Piô IX thân hành đến kính viếng Mẹ nơi ngôi Thánh Đường mới và uỷ thác cho các Tu Sĩ DCCT phải truyền bá Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp cho toàn thế giới. Nhìn lên ảnh Mẹ, ngài kên lên: "O quam formosa est… Ôi, Mẹ đẹp thật !"
Ngày 23.6.1867, sau tuần Tam Nhật Thánh long trọng, các kinh sĩ thuộc Hội Kinh Sĩ Thánh Phêrô tại Rôma đã tổ chức một nghi lễ đặc biệt để tôn kính Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp. Trước sự hiện diện của đám đông khách hành hương, các Kinh Sĩ đã đặt một triều thiên quí giá lên đầu Chúa Giêsu Hài Đồng và một triều thiên khác trên đầu Đức Mẹ. Sau đó, Tu Sĩ DCCT đã chọn Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp làm bổn mạng cho sứ vụ chính của Dòng là giảng Đại Phúc. Và Hội Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp được thành lập ngày 31.3.1876.
Ngày ngày dân chúng lũ lượt kéo nhau lên đồi Esquilino, Nhà Thờ Thánh An Phong để chiêm ngắm và cầu nguyện với Mẹ. Từ nay, nơi này cũng như trên khắp các lục địa, Đức Mẹ tiếp tục thi ân với tước hiệu Mẹ Hằng Cứu Giúp cho tất cả những ai đến cầu xin Mẹ với lòng tín thác.

Lm. Giuse NGUYỄN VĂN HỘI, DCCT, tổng hợp
Nguồn : Ephata 623







Vu Lan, Nghĩ Về Mẹ và Quê Hương




 
Hello all,
Moi xem...

Vu Lan, Nghĩ Về Mẹ và Quê Hương

Trần Trung Đạo

tâm bút

Một danh ngôn mà chúng ta thường nghe "thế giới có rất nhiều kỳ quan, nhưng kỳ quan tuyệt vời và vĩ đại nhất vẫn là trái tim người mẹ" Thật vậy, bao nhiêu thơ viết về mẹ cũng không đủ, bao nhiêu nhạc hát về mẹ cũng không vừa. Biển Thái Bình bao la, nước sông Hằng cuồn cuộn nhưng không sao có thể so sánh được với tấm lòng của mẹ. Bản nhạc nào viết về mẹ cũng hay, bài thơ nào viết về mẹ cũng cảm động bởi vì ngôn ngữ dành cho mẹ là ngôn ngữ của trái tim.

Mẹ là biểu tượng trọn vẹn và tuyết đối của tinh thần Chân Thiện Mỹ. Nếu có một người để chúng ta có thể san sẻ những điều thầm kín, riêng tư nhất, thì người đó phải là mẹ. Nếu có một người có thể tha thứ cho chúng ta dù phạm phải bất cứ một lỗi lầm gì, người đó sẽ là người mẹ. Tôi tin, nếu chúng ta biết dành ý nghĩ đầu tiên của một ngày, thay vì để nghĩ đến chuyện hơn thua, danh lợi nhưng là để nghĩ về mẹ, nghĩ về khuôn mặt của mẹ, tiếng cười của mẹ, lời dặn dò của mẹ hay thậm chí chỉ để gọi tiếng mẹ thôi, chúng ta sẽ có một ngày an lành và hạnh phúc.


Mẹ là người mang ta đến cuộc đời, và cũng là nơi ta trở về. Người đàn bà chân mang đôi dép ngược, khoát chiếc mền rách, như trong một câu chuyện thiền mà chúng ta có thể đã từng nghe kể, dù bao mùa mưa nắng vẫn không than van, không oán trách, vẫn chờ đơi ngày về của đứa con mãi mê trên đường đi tìm chân lý. Nếu chân lý mà chàng trai trẻ kia đi tìm là tình thương và sự thật thì chân lý sẽ không ở đâu xa mà trái lại vô cùng gần gủi. Trong tấm thân gầy yếu nhỏ nhoi của người mẹ chứa đựng cả một đại dương của hy vọng, tình yêu, sự thật và lòng vị tha sâu thẳm.

Hơn mười năm trước, tôi có viết một bài thơ về mẹ, trong đó có hai câu đã trở thành quen thuộc:

Ví mà tôi đổi thời gian được
Đổi cả thiên thu tiếng mẹ cười.

Bài thơ ra đời trong một đêm mưa, sau lần điện thoại đầu tiên với mẹ tôi từ Việt Nam. Giọng của mẹ như vọng lại từ một thế giới khác xa xôi. Tôi viết rất nhanh, nhanh hơn khi viết những bài thơ khác nhiều. Những dòng chữ, những câu thơ đúng ra là từ mơ ước, thao thức đã ấp ủ trong tâm thức tôi từ lâu lắm, chỉ chờ dịp để tuôn ra. Tôi không làm thơ, tôi chỉ chép như có một người nào đang nhắc nhở bên tai mình. Nguyên văn bài thơ như thế này:

Nhấc chiếc phone lên bỗng lặng người
Tiếng ai như tiếng lá thu rơi
Mười năm mẹ nhỉ, mười năm lẻ
Chỉ biết âm thầm thương nhớ thôi

Buổi ấy con đi chẳng hẹn thề
Ngựa rừng xưa lạc dấu sơn khê
Mười năm tóc mẹ màu tang trắng
Trắng cả lòng con lúc nghĩ về

Mẹ vẫn ngồi đan một nỗi buồn
Bên đời gió tạt với mưa tuôn
Con đi góp lá nghìn phương lại
Đốt lửa cho đời tan khói sương

Tiếng mẹ nghe như tiếng nghẹn ngào
Tiếng Người hay chỉ tiếng chiêm bao
Mẹ xa xôi quá làm sao vói
Biết đến bao giờ trông thấy nhau

Đừng khóc mẹ ơi hãy ráng chờ
Ngậm ngùi con sẽ dấu trong thơ
Đau thương con viết vào trong lá
Hơi ấm con tìm trong giấc mơ

Nhấc chiếc phone lên bỗng lặng người
Giọng buồn hơn cả tiếng mưa rơi
Ví mà tôi đổi thời gian được
Đổi cả thiên thu tiếng mẹ cười.

Bài thơ đơn giản và dể hiểu, không có gì phải cần bình giải. Tất cả chỉ để nói lên tâm trạng của một người con xa mẹ, bay đi như chiếc lá xa cành, mười năm chưa về lại cội. Năm tôi viết bài thơ, mẹ tôi, đã ngoài 60 tuổi và đang sống trong căn nhà tôn nghèo nàn ở Hòa Hưng Sài Gòn. Căn nhà nhỏ có giàn hoa giấy đỏ đó là nơi tôi đã sống 8 năm.

Nhớ lại đêm cuối cùng ở Sài Gòn, tôi đón xe xích-lô từ cửa sông về chào mẹ. Trời mưa lớn. Nhưng khi gặp mẹ, với tâm trí ngàn ngập những lo âu, hồi hộp cho chuyến đi, tôi không kịp nói một câu cho trọn vẹn ngoài ba tiếng "con đi nghe". Và như thế tôi đi, đi không ngoảnh lại, đi như chạy trốn. Để rồi hai ngày sau, khi chiếc ghe nhỏ của chúng tôi được hải quân Mỹ cứu vớt trên biển Đông vào khuya ngày 13 tháng 6 năm 1981, đứng trên boong chiến hạm USS White Plains nhìn về phía Nam, tôi biết quê hương và mẹ đã ngoài tầm tay vói của mình. Đời tôi từ nay sẽ như chiếc lá, bay đi, bay đi, chưa biết ngày nào hay cơ hội nào trở về nguồn cội.

Nếu có một quốc gia mà những người dân của quốc gia đó đã phải từ chối chính đất nước mình, từ chối nơi đã chôn nhau cắt rốn của mình, tôi nghĩ, đất nước đó không còn bao nhiêu hy vọng. Việt Nam sau 1975 là một đất nước sống trong tuyệt vọng như thế. Dân tộc Việt Nam những năm sau 1975 là một dân tộc sống trong tâm trạng những kẻ sắp ra đi. Sài Gòn giống như một sân ga. Chào nhau như chào nhau lần cuối và mỗi ngày là một cuộc chia ly. Bắt tay một người quen, ai cũng muốn giữ lâu hơn một chút vì biết có còn dịp bắt tay nhau lần nữa hay không. Gặp người thân nào cũng chỉ để hỏi "Bao giờ anh đi, bao giờ chị đi", và lời chúc nhau quen thuộc nhất mà chúng thường nghe trong những ngày đó vẫn là "Lên đường bình an nhé."


Đất nước tuy đã hòa bình rồi, quê hương đã không còn tiếng súng nhưng lòng người còn ly tán hơn cả trong thời chiến tranh. Đêm cuối ở Sài Gòn lòng tôi ngổn ngang khi nghĩ đến ngày mai. Ngày mai sẽ ra sao? Nếu bị bắt tôi sẽ ở tù như lần trước nhưng nếu đi được thì sẽ trôi dạt về đâu?

Suốt sáu năm ở lại Sài Gòn, tôi chỉ nghĩ đến việc duy nhất là ra đi. Khi chiếc ghe nhỏ bị mắc cạn trong một con lạch ở Hải Sơn buổi sáng ngày 11 tháng 6 năm 1981, trời đã sáng, nhiều người, kể cả một trong hai người chủ ghe, cũng bỏ ra về, nhưng tôi thì không. Tôi phải đi dù đi giữa ban ngày. Tôi phải tìm cho được tự do dù phải bị bắt và ngay cả phải trả giá bằng cái chết. Tự do đầu tiên, biết đâu cũng sẽ là cuối cùng và vĩnh viễn. Nhưng hai ngày sau, khi đứng trên boong tàu Mỹ, tôi biết mình vừa mất một cái gì còn lớn hơn ngay cả mạng sống của mình. Đó là đất nước, quê hương, bè bạn, con đường, tà áo, cơn mưa chiều, cơn nắng sớm, và trên tất cả, hình ảnh mẹ. Không phải những người ra đi là những người quên đất nước hay người ở lại bám lấy quê hương mới chính là người yêu nước. Không. Càng đi xa, càng nhớ thương đất nước, càng thấm thía được ý nghĩa của hai chữ quê hương. Không ai hiểu được tâm trạng người ra đi nếu không chính mình là kẻ ra đi.


Nói như thế không có nghĩa là tôi hối hận cho việc ra đi. Không, tôi phải đi. Nhưng chọn lựa nào mà chẳng kèm theo những hy sinh đau đớn. Bài hát Sài Gòn Vĩnh Biệt, tôi thỉnh thoảng nghe trên đài VOA khi còn ở Việt Nam như những mũi kim đâm sâu vào tâm thức. Bao nhiêu điều hai ngày trước tôi không hề nghĩ đến đã bừng bừng sống dậy. Bao nhiêu kỷ niệm tưởng đã chìm sâu trong ký ức đã lần lượt trở về. Tự do, vâng, tôi cuối cùng đã tìm được tự do nhưng đó chỉ là tự do cho chính bản thân mình. Những gì tôi đánh mất còn lớn hơn thế nữa.

Nhớ lại đêm thứ hai trên biển, khi biết chiếc ghe chiều dài vỏn vẹn mười mét rưỡi nhưng chứa đến 82 người của chúng tôi vừa cặp vào thành tàu chiến của Mỹ thay vì Ba-Lan hay Liên-Xô như mọi người trên ghe lo sợ, ai cũng hân hoan mừng rỡ. Đám bạn tôi, có đứa thậm chí còn hô lớn "USA, USA" và ôm chầm lấy những người lính hải quân Mỹ đang dang tay đỡ từng người bước lên khỏi chiếc cầu dây đang đong đưa trên sóng. Tôi cũng vui mừng, biết ơn và cảm động nhưng không ôm chầm hay hô lớn. Lòng tôi, trái lại, chợt dâng lên niềm tủi thẹn của một người tỵ nạn. Chiếc cầu dây mong manh tôi bám để leo lên chiến hạm, trở thành chiếc cầu biên giới, không chỉ cách ngăn giữa độc tài và tự do, của quá khứ và tương lai, mà còn giữa có quê hương và thiếu quê hương. Tôi nghĩ thầm, cuối cùng, tôi cũng như nhiều người Việt Nam khác, lần lượt bỏ đất nước ra đi mà thôi. Dù biện minh bằng bất cứ lý do gì, tôi cũng là người có lỗi với quê hương.

Tôi nhớ đến mẹ, người mẹ Hòa Hưng vất vả nuôi nấng bảy đứa con, trong đó tôi là con lớn nhất, trong một hoàn cảnh hết sức khó khăn. Mẹ tôi bán bánh bèo ở đầu đường để nuôi chúng tôi ăn học. Mẹ tôi tình nguyện đi kinh tế mới ở Sông Bé để các em tôi còn được phép ở lại Sài Gòn học hết bậc phổ thông. Mẹ tôi đi mót lúa, mót khoai gởi về nuôi nấng chúng tôi trong những ngày đói khổ.

Trong tâm trí tôi, hình ảnh bà mẹ Hòa Hưng, đêm đầu tiên trong căn nhà không vách trên vùng Kinh Tế Mới, khoảng 20 cây số phía Nam thị trấn Đồng Xoài vào năm 1976. Cánh rừng vừa được khai hoang vội vã này không ai nghĩ một ngày sẽ được gọi bằng một cái tên rất đẹp, khu Kinh Tế Mới. Kinh Tế Mới là những căn nhà lá mỗi chiều chỉ hơn mười mét do những bàn tay học trò của thanh niên xung phong dựng lên, nối nhau chạy dọc theo cánh rừng hoang.

Tôi kính yêu me. Mẹ Hòa Hưng là người săn sóc tôi trong những tháng ngày khó khăn nhất của tôi và người đã thôi thúc tôi viết nên bài thơ Đổi Cả Thiên Thu Tiếng Mẹ Cười trong đêm mưa hơn mười năm trước. Tuy nhiên, mẹ của Đổi Cả Thiên Thu Tiếng Mẹ Cười không phải là người đã mang tôi vào cuộc đời này.

Người mẹ sinh ra tôi đã chết khi tôi còn rất nhỏ. Nhỏ đến nỗi tôi gần như không biết mặt mẹ mình. Trong tuần hoàn của vũ trụ, giọt nước còn biết mẹ mình là mây, chiếc lá còn biết mẹ mình là cây, còn tôi thì không. Tôi là đứa bé cô độc, một con người cô độc, không anh em, không chị em. Tôi lớn lên một mình với cha tôi trong cảnh gà trống nuôi con trong căn nhà tranh nhỏ ở làng Mã Châu, quận Duy Xuyên. Đêm đêm nằm nghe cha kể chuyện thời trai trẻ buồn nhiều hơn vui của đời ông. Những ngày tản cư lên vùng núi Quế Sơn. Những ngày sống trong túp lều tranh dưới hàng tre Nghi Hạ. Và dưới hàng tre Nghi Hạ nắng hanh vàng đó, cha mẹ tôi đã gặp nhau, đã chia nhau ly nước vối chua chua thay cho chén rượu tân hôn nồng thắm. Dù sao, bên khung cửi vải, bên lò ươm tơ, họ đã cùng nhau dệt một ngày mai đầy hy vọng. Mặt trời rồi sẽ mọc bên kia rặng tre già, mặt trăng rồi sẽ tròn bên kia giòng sông Thu, những ngày chiến tranh, tản cư cực khổ sẽ qua đi nhường bước cho hòa bình sẽ đến.


Nhưng rồi chiến tranh như một định nghiệp, đeo đuổi theo số phận của đất nước chúng ta, đeo đuổi theo số phận của đời tôi. Năm tôi 13 tuổi, chiến tranh đã cướp đi cha tôi, người thân yêu cuối cùng của tôi. Chiến tranh lan tràn đến làng Mã Châu, đẩy tôi ra khỏi xóm lụa vàng thân quen để làm người du mục trên quê hương đổ nát của mình. Từ đó tôi ra đi. Từ chặng đường đầu tiên trên căn gác hẹp trong con hẻm 220 Hùng Vương Đà Nẵng, đến chùa Viên Giác Hội An, xóm nghèo Hòa Hưng, trại tỵ nạn Palawan và hôm nay trên nước Mỹ, nơi cách chặng đầu tiên trong hành trình tỵ nạn của tôi hàng vạn dặm.

Hình ảnh duy nhất của tôi về mẹ là ngôi mộ đầy cỏ mọc dưới rặng tre già ở làng Mã Châu. Ngày tôi còn nhỏ, mỗi buổi chiều khi tan trường tiểu học, trên đường về tôi thường ghé thăm mộ mẹ. Nhổ những bụi cỏ hoang, trồng thêm những chùm hoa vạn thọ. Tôi ưu tư về cuộc đời và về thân phận của mình ngay từ thuở chỉ vừa năm, bảy tuổi. Tại sao tôi chỉ có một mình? Tại sao mọi người đều lần lượt bỏ tôi đi? Nếu mai mốt ba tôi cũng đi thì tôi sẽ sống với ai? Lớn lên tôi sẽ làm gì? Tại sao đất nước tôi lại có chiến tranh? Những người du kích bên kia sông là ai? Và ở đó những buổi chiều vàng, bên ngôi mộ nhỏ của mẹ, tôi để lòng tuôn chảy những suy tư, dằn vặt đang bắt đầu tích tụ. Từ khi năm bảy tuổi tôi đã linh cảm cuộc đời tôi sẽ là những ngày đầy biến cố. Tôi đã nghĩ đến chuyện một ngày nào đó tôi sẽ đi xa khỏi rặng tre già, khỏi ngôi làng tơ lụa Mã Châu dường như thôn làng nhỏ bé này sẽ không đủ lớn để chứa hết những buồn đau, u uất của tôi. Nếu tuổi thơ là tuổi hồn nhiên với những cánh diều bay, với những con bướm vàng thơ mộng thì tôi đã không có tuổi thơ. Tuổi thơ tôi là một chuổi ngày ưu tư và chờ đợi một điều gì sắp đến.

Mẹ tôi qua đời vì bịnh trong một xóm nhà quê nghèo khó nên không có ngay cả một tấm hình để lại cho tôi. Cha tôi thường bảo, tôi giống cha nhiều hơn giống mẹ. Tôi cũng chẳng có cậu hay dì nên tôi lại càng không thể tìm đâu ra được một nét nào của mẹ trong những người thân còn sống. Vì không biết mẹ, nên mẹ trở thành tuyệt đối. Khi nhìn ánh trăng tròn trong ngày rằm tháng Bảy, tôi nghĩ đó là khuôn mặt dịu dàng của mẹ, nhìn nước chảy ra từ dòng suối mát tôi nghĩ đến dòng sữa mẹ, nhìn áng mây trắng bay trên nền trời tôi nghĩ đến bàn tay mẹ, nhìn những vì sao trên dải thiên hà tôi nghĩ đến đôi mắt mẹ. Nói chung, hình ảnh nào đẹp nhất, tinh khiết nhất, thiêng liêng nhất, đều được tôi nhân cách hóa nên hình ảnh mẹ. Vẻ đẹp của mẹ tôi là vẻ đẹp không những tuyệt vời mà còn tuyệt đối.


Tôi về thăm mộ mẹ lần cuối vào năm 1980 trước ngày vượt biển. Ngôi mộ đầy cỏ mọc hoang vu. Sau 1975, ngay cả người sống cũng không ai chăm nom đừng nói gì chuyện chăm nom cho người đã chết. Hôm đó, tôi ngồi nơi tôi đã từng ngồi trong thời thơ ấu và kể cho mẹ nghe đoạn đời chìm nổi của mình. Tôi nói với mẹ rằng tôi sẽ ra đi khỏi nước và hứa sẽ về dù biết nói như thế chỉ để an ủi hương hồn mẹ mà thôi. Tôi cầu mong mẹ phò hộ cho đứa con duy nhất của mẹ được bình an trong những ngày sóng gió sắp xảy ra.

Ôi đời mẹ như một vầng trăng khuyết
Vẫn nghìn năm le lói ở đầu sông.

Vâng, vầng trăng bên dòng sông Thu Bồn từ đó không còn tròn như trước nữa.

Ai cũng có một cuộc đời để sống. Nỗi bất hạnh nào rồi cũng nguôi ngoai. Vết thương nào cũng lành đi với thời gian. Tuy nhiên có một nỗi bất hạnh sau bao nhiêu năm dài vẫn còn, đó là bất hạnh của dân tộc Việt Nam. Điều làm tôi đau xót nhiều hơn cả, không phải vì tôi mất mẹ, không phải vì tôi xa mẹ nhưng chính là sự chịu đựng của hàng triệu bà mẹ Việt Nam triền miên suốt mấy chục năm qua, từ chiến tranh sang đến cả hòa bình.


Trên thế giới này, bà mẹ Nga, mẹ Ý cũng thương con như một bà mẹ Việt Nam. Trong lúc tình yêu của một bà mẹ ở quốc gia nào cũng bao la, cũng rộng lượng, cũng vô bờ bến, tôi vẫn tin một bà mẹ Việt Nam thì khác hơn nhiều. Bà mẹ Việt Nam, ngoài là biểu tượng cho tất cả những nét đẹp của quê hương, đất nước, tình thương, còn là những hình ảnh đầy thương tích, tủi buồn nói lên sự chịu đựng, gian nan, khổ cực không thể nào đo lường hết được. Hình ảnh bà mẹ giăng tấm vải dầu trên một góc đường Trần Hưng Đạo để che nắng che mưa cho bầy con thơ dại đang đói khát. Hình ảnh bà mẹ chết đói sau khi ghe của mẹ đi lạc nhiều tuần trên biển. Hình ảnh bà mẹ chết trong mỏi mòn tuyệt vọng dưới gốc me già trên góc phố Sài Gòn vào một ngày mưa bão. Hình ảnh bà mẹ chết cô đơn trong chiếc thuyền chài nghèo nàn. Tất cả hình ảnh đau thương đó đã trở thành mối ám ảnh thường xuyên trong tâm trí tôi. Ám ảnh nhiều đến nổi, dù viết về bất cứ chủ đề gì, thể loại gì, văn hay thơ, cuối cùng tôi cũng trở về với hình ảnh mẹ. Mỗi bước chân tôi đi trên đường đời mấy chục năm qua vẫn còn nghe vọng lại tiếng khóc của những người phụ nữ Việt Nam bất hạnh, đã khóc trong chiến tranh, khóc trong hòa bình, khóc trong bàn tay hải tặc giữa biển Đông và khóc trên xứ người hiu quạnh.

Mơ ước lớn nhất của tôi, vì thế, không phải cho tôi mà cho những người mẹ đang chịu đựng, để các mẹ có cơ hội được sống trong một đất nước không còn hận thù, rẻ chia, ganh ghét, một đất nước chan chứa tình đồng bào, một đất nước thật sự tự do, ấm no, hạnh phúc. "Đổi cả thiên thu tiếng mẹ cười" trong một ý nghĩa rộng hơn là ước mơ của tôi, của anh chị, của cô chú và của tất cả những ai còn nghĩ đến sinh mệnh của dân tộc, về một ngày đẹp trời cho đất nước mình. Quá nhiều máu và nước mắt đã đổ trên mảnh đất linh thiêng và thống khổ Việt Nam. Mỗi người Việt Nam, hơn bao giờ hết hãy trở về với mẹ như trở về với chính cội nguồn uyên nguyên của dân tộc mình. Trong đêm rằm tháng Bảy này, xin hãy cùng nhau thắp lên những ngọn nến, dù nhỏ, dù đơn sơ nhưng được làm bằng chất liệu dân tộc, nhân bản và khai phóng đã được tổ tiên chúng ta hun đúc sau hơn bốn ngàn năm lịch sử.


Đời tôi là những cơn mưa dài. Mưa khi tôi rời làng Mã Châu, mưa trong đêm đầu tiên trong căn gác trên đường Hùng Vương Đà Nẵng, mưa dưới gốc đa già ở Chùa Viên Giác, mưa khi tôi vừa đặt chân đến Sài Gòn lần đầu tiên và mưa lớn trong đêm tôi rời đất nước ra đi. Nhưng tôi chưa bao giờ tuyệt vọng, chưa bao giờ cảm thấy cuộc đời là hố thẳm. Tôi không sống trong hôm qua, trái lại mỗi ngày là một chặng đường mới của đời mình. Tôi bình tĩnh đến độ hồn nhiên khi đón nhận những khắc nghiệt đến với đời tôi và tôi rất lạc quan trong khả năng chuyển hóa hoàn cảnh của chính mình.


Trong cuộc đời này, tôi đã nhiều lần vấp ngã nhưng nhiều người cũng đã giúp vực tôi dậy, lau khô những vết thương trên thân thể và trong cả tâm hồn. Tôi mang ơn xã hội nhiều đến nỗi biết mình sẽ không bao giờ trả hết. Tôi biết ơn những người đã che chở cho tôi và cũng cám ơn cả những người đã dạy tôi hiểu giá trị của gian lao, thử thách. Cám ơn đất nước đã cho tôi được làm người Việt Nam, cám ơn mẹ Duy Xuyên mang tôi đến thế gian nầy, cám ơn mẹ Hòa Hưng nuôi nấng tôi trong những ngày bà con thân thuộc đã ruồng bỏ tôi, cám ơn cây đa già chùa Viên Giác che mát cho tôi suốt năm năm dài mưa nắng. Nếu một mai tôi ra đi không kịp viết điều gì, thì đây, những kỷ niệm của một lần ghé lại.



__._,_.___

Posted by: Thinh Uong <uongtran@hotmail.com>

Reply via web post Reply to sender Reply to group Start a New Topic Messages in this topic (1)

Yahoo Groups

Instantly Explore All Attachments Within Each Group Conversation
You can now explore files, preview and download photos directly within each conversation.


.


__,_._,___